Tag: du lịch khám phá hội an

Tham dự hội cầu Bông

Tham dự hội cầu Bông

Sau lễ cầu Bông, dân làng hạ nêu ra đồng bắt tay vào vụ mới. Lễ hội năm nay rất đặc biệt vì có gần 500 du khách nước ngoài cùng tham gia phần hội như gói tôm hữu – món ăn đặc trưng của làng Trà Quế, thi nông dân sản xuất rau giỏi…

Tham dự hội cầu Bông

Tham dự hội cầu Bông

Hằng năm cứ vào ngày mùng 7 tháng giêng âm lịch, người dân thôn Trà Quế (xã Cẩm Hà, TP. Hội An) lại tổ chức lễ hội cầu Bông để tri ân các bậc tiền nhân, người đã khai lập làng rau Trà Quế và cầu cho mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt.

Sau lễ cầu Bông, dân làng hạ nêu ra đồng bắt tay vào vụ mới. Lễ hội năm nay rất đặc biệt vì có gần 500 du khách nước ngoài cùng tham gia phần hội như gói tôm hữu – món ăn đặc trưng của làng Trà Quế, thi nông dân sản xuất rau giỏi… Lễ hội cầu Bông là nét đẹp văn hóa đang được quảng bá đến đông đảo du khách trong và ngoài nước.

Theo hoianworldheritage.org.vn

Thông tin về lễ rước Long Chu – Hội An

Thông tin về lễ rước Long Chu - Hội An

Long Chu tuy nặng phần lễ nghi, nhẹ hoạt động hội nhưng nó vẫn là loại lễ hội vì huy động toàn bộ dân cư trong một địa bàn tham gia và là mối lo chung cho mọi người. Đó là sinh hoạt văn hóa-tín ngưỡng cộng đồng.

Thông tin về lễ rước Long Chu - Hội An

Thông tin về lễ rước Long Chu – Hội An

Long Chu là từ chỉ chiếc thuyền làm theo hình con rồng. Đây là phương tiện sang trọng dành riêng cho vua chúa ngự lãm hoặc tuần du ngày xưa.

Với dân gian xưa, ôn hoàng, dịch lệ là lực lượng siêu nhiên gây hại cho người, đáng ghét đáng sợ nhưng cũng cần kính nể. Vì vậy, làm Long Chu là dựa theo loại thuyền của vua để chở thần, tướng, âm binh áp tải, tống quái, tống ôn và xú uế đi, mong hưởng cái tốt lành cho nơi cư trú của con người.
Long Chu có bộ sườn đóng bằng tre, nài phết giấy vẽ phẩm xanh đỏ, giữa mình là thuyền, đầu đuôi hình rồng có đủ sừng, râu, kỳ, vẩy… Hông trái buộc một dầm lái, trước buộc một dầm mũi, 4 góc trước, sau thuyền có 4 hình nhân cầm dầm, một hình nhân nữa ngồi ở lái. Trên Long Chu cắm 4 cờ, 4 cán cờ xuyên thẳng qua thuyền thành 4 chân, giữa có lọng che và một phướn, hông thuyền cột dọc 2 đoạn tre cho 4 người khiêng, trong lòng có trang bị đầy đủ đồ dùng cho một bậc quyền uy, có điều tất cả đều bằng tre và giấy màu. Long Chu làm đẹp, xấu, lớn, nhỏ, hiền, dữ tùy thuộc tài năng của thợ mã và yêu cầu đã được dân làng thỏa thuận trước.
Rằm tháng giêng (Thượng nguyên), rằm tháng bảy (Trung nguyên) là hai thời điểm chuyển tiếp giữa mùa mưa và mùa khô. Cuộc sống lạc hậu, thiếu vệ sinh ở thôn quê xưa cộng với tác động của thiên nhiên sau khô hanh, lũ lụt thường có bệnh dịch hoành hành, lây lan cả vùng. Vì vậy tất cả cư dân trong cộng đồng đều có trách nhiệm tham gia cúng Long Chu.
Chức sắc trong làng và các tộc trưởng cử ra một ban chánh tế và mời thầy phù thủy chủ trì. Họ quyên góp trong dân và xuất quĩ thuê thợ mã làm Long Chu, số khác che rạp, bày hương án tại đình làng, ấp. Không khí náo nức, vui vẻ, mọi lứa tuổi tham gia quét tước trong nhà nài ngõ đúng nghĩa “chộn rộn chàng ràng như làng vào đám”.
Trước lễ chính một ngày, mọi việc chuẩn bị phải xong, 7 thày phù thủy thuộc loại cao tay ấn, do thầy Cả dẫn đầu cùng các học trò lễ (người phụ tá) đi làm phép”trấn đạo lộ” (trấn yểm). Họ mang theo những mảnh bùa vẽ sẵn dán trên mảnh gỗ, tre, vừa đi vừa giật khăn ấn, vừa bắt quyết, phún hỏa (phun dầu hỏa) dựng bùa vào ngã ba ngã tư đường làng hoặc nơi nghi ngờ có quỉ, ôn tụ tập. Những nơi này đều có một bàn thờ nhỏ, thấp, trên có một lư hương. Nơi có đựng bùa hoặc đường dự kiến cho các phù thuỷ cùng đám người đi trấn yểm, trừ tà ma quỉ quái đều được dọn dẹp phong quang, thoáng đãng.
Trên đường, đoàn trấn yểm kéo dài như đoàn rồng rắn. Phía trước là những người đánh trống, thanh la và các thày pháp vừa đi vừa ái phà, hú hét. Phía sau là cả đoàn dài những người tò mò đi xem. Từng tốp trai thanh gái lịch đứng ở vườn này, vườn kia cất giọng thách hát đối, khi thấy các tốp nam nữ ở ấp khác đi qua. Những điệu hát huê tình, hát đúc, hát kiến tại cứ bay bổng hàng giờ. Khi cuộc hát kết thúc, đám đông nhập vào đoàn trấn yểm và như vậy, cuộc trấn yểm bỗng trở thành cái cớ cho người tứ xứ gặp nhau. Hết những nơi đã định sẵn, các thầy pháp trở về đình dán 4 lá bùa vào 4 cây cột góc và một lá ở cửa chính. Tại đây, nhiều người thuộc các xóm ấp nhỏ trong làng, những nhà vườn lâu nay bị “quỉ ma khuấy phá” đã chầu chực sẵn. Ai cũng mang theo vài tảng đá đã quét vôi đến xin thầy vẽ bùa vào để về yểm. Chánh bái cùng thầy Cả và một số tráng đinh khỏe mạnh kèm ban nhạc, cờ xí đi trước về tại sân đình. Đầu Long Chu xoay vào trong trước mặt có hương án, trên đựng đồ ăn bằng chuối cắt ra gồm bánh trái, xôi thịt, cháo chè, gạo muối, thuốc, nước, củi… mỗi thứ một ít. Thầy Cả làm phép khai quang điểm nhãn, lấy mực và son vẽ 2 con mắt cho Long Chu rồi làm lễ vô khoa (lễ cúng tổ phù thủy) làm khởi đầu cho các lễ sau.
Đầu tiên là lễ cáo thần (lễ túc yết) vào giờ tý (12-2 giờ đêm) lễ vật đơn sơ, hương đăng trà quả. Đến giờ mão (6-8 giờ sáng) làm lễ tế thần. Lễ này cúng mặn, có heo, gà để bày tỏ lòng thành của dân làng với thần, lính cai quản làng nên hết sức trang nghiêm, trọng thể như lễ đình ở mọi nơi, có văn tế và nhạc đã coi là lệ nên không thể bỏ.
Xong thủ tục, đến giờ thìn (8-10 giờ sáng) lễ cúng Long Chu chính thức bắt đầu. Thầy Cả mặc áo Thái Thượng Lão Quân in hình bát quái, thắt lưng đỏ, vai vắt khăn ấn đỏ hoặc vàng, chân đi hia, đầu đội mũ tì lư, tay cầm cái vãng cắm hương hoặc cái kỵ lịnh (chuông lắc), tay bắt quyết. Phụ tá cho thầy Cả có các thày con và các học trò lễ cùng dàn nhạc.
Thầy bắt quyết cho quay đầu Long Chu ra cổng, thầy đọc những bài chú riêng, mỗi đoạn chuyển lại gõ lệnh bài vào hương án, trong khi các thầy con điểm nhạc, đọc kinh hòa theo và dâng những thứ cần cho thầy Cả. Thầy Cả vừa đọc những bài chú đầy bí ẩn vừa đọc văn triệu 32 tướng chỉ huy, văn triệu âm binh, văn phát lương, văn phát nại binh.
Các bản văn cho thấy đội ngũ binh tướng được triệu đến để trừ tà diệt quỉ là cả một lực lượng khổng lồ. Trên hết là những vị tổ sư: Thượng Thanh Tiên Cảnh – Linh Bảo Thiên Tôn, Thái Thanh Chân Cảnh – Đạo Đức Thiên Tôn, Ngọc Thanh Thánh Cảnh- Nguyên Thỉ Thiên Tôn. Phía dưới là 32 chức vị thần tướng Đông Tây Nam Bắc, ba cung trung đạo và “vạn vật âm binh” tràn ngập trong “thế thiên la địa võng”. Lực lượng này được phát lương no đủ (gạo muối) để “ra tay bắt kẻ tà ma làm lệnh”, “xây lũy đào hào bủa lưới giăng”, “sát quỉ trừ tà hộ bổn chủ”. Quỉ ma cũng được đãi đằng tử tế, cả những lời vỗ về hoặc lời lên án nghiêm khắc buộc phải tuân thủ dưới sự thâu tóm của âm binh lên Long Chu đi đày miền khác. Số nào có quá nhiều tội lỗi phải chịu trừ khử. ở đoạn này, thầy Cả đọc văn khao ôn, văn tống quái. Nếu thày Cả già yếu, thày phụ trẻ sẽ đọc văn thay, vừa đọc văn vừa có những động tác múa võ, múa nhập đàn. Phạm vi hoạt động của các thày pháp là cả sân đình rộng. Thầy ra vào tới lui tấp nập như cuộc đấu quyết liệt có thật với lực lượng vô hình, người xem cứ ngày càng phấn kích hể hả ra mặt nhất là khi thày có động thái dữ dội với một tên ma quỉ nan cố, ngạo mạn, khi thì thầy trầm trầm trách cứ với một kẻ đã quen mặt, đã nhiều lần được tha nay lại bị âm binh bắt về. Trường hợp lâu nay có chuyện hỏa tai, có cây cột hiển linh gây đau ốm trong nhà hoặc nửa đêm thốt nhiên có đất đá quẳng rào rào trên mái nhà, thì do chủ nhân đề nghị trước, thầy sẽ cúng thêm và đọc những bài văn “tống hỏa tai”, “văn cúng tên bắn đất”, “văn cúng mộc trụ”.
Nghỉ một lát, vào giờ dậu là đợt cúng cuối cùng sau bài “phát lương”, thầy đọc tiếp các bản “văn khao Nương Nương”, “văn khao thổ ôn thổ quỉ”, “văn khao thủy giới”, “văn lễ Hà Bá” được xướng lên. Cuối cùng là bài “văn khao ôn” trong đó có đoạn “tạ Ôn Vương” được đọc nhiều lần. Các thầy phù thủy thay nhau đọc, sau đó thầy Cả vẽ bùa bắt ấn vào Long Chu xướng lớn “yểm ghe đi không được ngó lại”, “yểm Lục Giáp, Lục ất, hung thần đi cho mau, Lục Bính, Lục Đinh quỉ mị phải đi gấp, Lục Mậu Lục Kỵ lánh đi cho mau, Lục Oanh, Lục Tân, tà ma hóa ra bụi bặm, Lục Nhâm, Lục Quỉ hung nương lánh mặt đi cho xa”. Thầy Cả gõ lệnh bài chan chát vào hương án, các thầy phụ cùng bắt ấn hướng vào Long Chu để giết quỉ ma.
Đến đây lễ tế tại đình kết thúc, chuyển sang phần rước Long Chu. Theo hiệu của thầy chấp lệnh, bốn thanh niên khiêng Long Chu có thầy Cả ngồi trên hai thanh gươm tuốt trần bắt chéo hình chữ X: hai bên các thầy phụ đi kèm, phía sau có ông chánh bái và ban lễ đại diện cho làng, phía trước một số thanh niên mang đuốc chạy soi đường. Người đánh trống chầu thúc ngũ liên, Long Chu chạy lúp xúp tới những nơi đã trấn yểm hôm trước, các thầy phụ đọc kinh, đọc chú, giật khăn trấn yểm. Hết nơi này đến nơi khác. Trên đường rước Long Chu có nhiều trạm dừng chân để thay người khiêng.
Dưới ánh trăng rằm mới lên, mọi người trong làng dùng roi quất khắp nơi rồi tràn ra đường, xông khói lửa đuốc sáng rực ngõ xóm chờ Long Chu đến. Họ đốt pháo, quẳng roi vào Long Chu, giật bùa của thầy về dán ở ngõ. Tất cả đều hào hứng, âm thanh náo loạn. Người lớn, trẻ con chờ xem rồi nhập vào đám rước. Người già trẻ con ai ai cũng thích.
Long Chu đi hết các nơi phải đi cũng đã đến giờ Hợi. Đám rước đến một nơi vắng thì dừng lại, nổi lửa đốt Long Chu. Nơi gần sông thì họ thả xuống sông, trên Long Chu có những chén dầu lạc làm đèn cháy sáng, trôi dần ra biển.
Ở đình Cẩm Phô, nài các hình thức như nhiều nơi còn thêm tục “xô cộ” (cổ). Cộ là một dàn tre hình chóp nhiều tầng cao chừng 2m. Mỗi tầng có đặt xôi thịt, bánh trái, tiền… Phía trên là một khung pháo cây. Khi cúng đình xong, pháo nổ mọi người xô vào cướp, ai được nhiều thì xem như có nhiều lộc.
Người Hoa ở các bang thường làm Long Chu lớn và công phu hơn. Có khi toàn bộ Long Chu làm bằng vải, dài cỡ 5m, phải luồn tre xuống dưới bụng cho bốn cặp người khiêng (8 người) cúng ở chùa Âm Bổn, Ngũ Bang hay chùa Ông. Cộ cũng làm lớn, có khi để cả con heo quay trên đó. Khi có lệnh xô cộ, mọi người tranh nhau vào lấy lộc, có người thật nhanh dành được cả con heo quay để chót vót trên đỉnh giàn mà chạy. Long Chu của người Hoa thường được thả xuống sông, trên đó có thêm rượu, khèn, “sáp ong”, heo quay nguyên con, cả gà trống còn sống.
Ở khu vực Thanh Chiêm (An Nhơn, An Quán, Đông Phương, Phước Kiều) làm Long Chu không đẹp bằng dưới phố Hội An, có khi chỉ là bè chuối có mui che thức cúng, đầu và đuôi rồng làm riêng bằng giấy gắn vào. Việc cúng do làng ấp tổ chức có thầy pháp chủ trì với mục đích “tống sùng trừ ôn dịch”, mong một mùa nông sản tốt đẹp.
Như vậy, lễ hội Long Chu phần cúng lễ kéo dài hai ngày hai đêm, nặng phần phù thủy. Long Chu thể hiện nhân sinh quan, thế giới quan của người dân xưa, khi chưa cắt nghĩa và có hành động giải quyết được những hiện tượng lạ quanh mình nên để thực hiện phải nhờ đến thế lực phù thủy với các nghi lễ ma thuật huyền bí. Bản chất đích thực tốt đẹp ban đầu bị chìm lấp, tính chủ động, sáng tạo bị kìm hãm nên ý nghĩa hội cũng bị chìm sâu, không nổi trội. Bóng dáng các cuộc hát đối đáp hiện lên mờ nhạt. Trước năm 1945 Long Chu được mọi làng, ấp làm; làng làm lớn, ấp làm nhỏ thường kết hợp với đình nên bị hiểu lầm là hoạt động phụ của tổ chức cúng tế lớn thường kỳ hàng năm. Qua hồi cố, tôi thấy ý nghĩa mục đích của Long Chu có tách bạch, các làng ấp lớn ở Hội An, Duy Xuyên, Điện Bàn quanh vùng Cửa Đại đều có làm Long Chu. Có nơi cúng Long Chu sau dịp tế đình vài ngày, vì phù thủy không đủ để phục vụ đồng loạt các làng cùng một lúc. Có cách giải thích khác rằng Long Chu làm sau để thành hoàng thấy rõ sự bất lực của mình nên càng chăm lo đến việc hơn. Từ 1975 đến nay, lễ hội Long Chu không được tổ chức. Vài nơi, thay vì làm Long Chu, họ làm bè chuối để ít gạo muối, bánh trái thả sông.
Long Chu tuy nặng phần lễ nghi, nhẹ hoạt động hội nhưng nó vẫn là loại lễ hội vì huy động toàn bộ dân cư trong một địa bàn tham gia và là mối lo chung cho mọi người. Đó là sinh hoạt văn hóa-tín ngưỡng cộng đồng.
Bóc lớp văn hóa nặng về nghi lễ, nó thể hiện mặt nhân văn rất rõ. Đó là cái Nhân trong truyền thống nhân đạo của dân tộc. Quỉ ma quấy phá nhưng chúng vẫn được mời lại để khao vọng, an ủi vỗ về rồi nhờ thần tướng, âm binh tróc nã, phán xử. Bên cái mềm có cái cứng. Trong việc thờ, có khao có tạ, nổi bật lên là lòng cầu mong an cư, hòa bình. Bao trùm là cái nhân bản, khao khát tự khẳng định bản ngã giữa đời giữa đất của mình, vươn lên không ngừng cho cuộc sống tốt đẹp, thịnh vượng hơn.
Lễ hội Long Chu, thực chất là một cuộc tổng tấn công trừ khử tà ma dịch bệnh và cũng là công cụ để chuyển tải, bày tỏ sâu sắc văn hóa của cộng đồng cư dân nông nghiệp. Dù ở mức độ nào cũng có tác dụng đoàn kết, hòa đồng, để cùng chiến thắng, để mưu sinh.
Cư dân Hội An có một quá trình tụ cư, hỗn cư, hợp cư nên đương nhiên có sự tiếp thu những văn hóa của các dân tộc người có quan hệ. Trong điều kiện phát triển đô thị – thương cảng trung chuyển mậu dịch quốc tế nên lễ hội Long Chu có sự tích hợp và hòa đồng giữa Phật giáo, Đạo giáo và tín ngưỡng dân gian. Đây là một sinh hoạt tổng hợp, có bóng dáng của các môn bùa phép ếm đối thờ đá ở người Chàm, của quan niệm đưa linh hồn người quá cố qua bến Giác Hải của người Trung Quốc, của dấu vết lễ dâng quả đầu mùa cho tổ tiên của người Thái và sự tạ ơn thần của một số nước ở vùng Đông Nam Á.
Trong văn cúng Long Chu xuất hiện tên gọi các vị thần xuất xứ từ Trung Quốc, từ Bắc Bộ và Trung Bộ. Các thể văn viết bằng chữ Hán, Nôm có ngâm, có xướng mang phong cách xứ Quảng.
Mặc dầu có những hạn chế, có màu sắc tín ngưỡng,Long Chu vẫn lấp lánh ước mơ của cư dân nông nghiệp “Gạo Lương Sơn nn tại Thiên Phù, ăn tất quí đầy thiên thu, uống tất sống lâu muôn tuổi, đầy đầy hồ gạo châu tích, tràn tràn hồ lúa khắp vạn nơi”. Và, Long Chu vẫn là loại lễ hội kết hợp một sản phẩm sáng tạo văn hóa của cư dân nông nghiệp sông nước Hội An cũng như những lễ hội nước khác cần được tiếp tục nghiên cứu, phát huy những mặt tốt của nó./.

Theo hoianworldheritage.org.vn

Thông tin về lễ hội Làng Gốm Thanh Hà

Thông tin về lễ hội Làng Gốm Thanh Hà

Lễ hội làng Gốm, một hoạt động văn hóa tinh thần của cộng đồng cư dân Thanh Hà – Hội An luôn diễn ra sôi nổi, đậm tính dân gian với nhiều nghi thức cổ truyền được chính các nghệ nhân và bà con nhân dân trong làng thực hiện.

Thông tin về lễ hội Làng Gốm Thanh Hà

¸Thông tin về lễ hội Làng Gốm Thanh Hà

Theo lịch sử, cư dân Thanh Hà có nguồn gốc chủ yếu ở vùng Thanh Hóa, Nam Định, Hải Dương vào định cư từ khoảng cuối thế kỉ 15. Trong buổi sơ khai, khi đồ dùng của đại bộ phận dân cư chủ yếu là đồ gốm sứ, đất nung thì cư dân ở đây đã tiếp tục truyền thống của cha ông, khai thác địa thế thuận lợi của vùng đất mới để phát triển nghề gốm. Theo cách nhớ của người làng Thanh Hà thì năm 1516, nghề gốm bắt đầu sản xuất tại làng Thanh Chiêm ( nay là khối phố 6 phường Thanh Hà ), sau đó do không hợp phong thủy nên dời lên Nam Diêu ( tức khối phố 5 phường Thanh Hà ), Nam Diêu có nghĩa là lò gốm phía Nam

Hiện nay tại Nam Diêu còn miếu Tổ nghề của làng. Hằng năm, người dân làng gốm tổ chức lễ tế Xuân vào ngày mồng 10 tháng Giêng nhằm cúng tổ tiên, mong cho chư thần, tổ nghề và các bậc tiền nhân ban cho năm mới bình an, làng nghề phát triển.

Nhiều thế kỉ qua, nghề làm gốm và gạch ngói ở Thanh Hà nổi tiếng không chỉ ở xứ Quảng mà cả nước và nước ngoài.Trong sách Phủ Biên Tạp Lục học giả Lê Quí Đôn có đề cập đến gốm ” Cochi”, ” Cauchi” ( Giao Chỉ) mà người nước ngoài ưa chuộng có cả gốm Thanh Hà xứ Quảng.Và kể từ thế kỉ 17 trở lui, do việc tái tạo thành phố Hội An mà sinh ra ngành gạch ngói rất thịnh hành ở Thanh Hà.

Không chỉ phục vụ cho nhu cầu địa phương các vùng lân cận mà còn trở thành một mặt hàng trao đổi mua bán cho cả xứ Đàng Trong. Khi nhà Nguyễn chọn Phú Xuân làm kinh đô, nhiều nghệ nhân được gọi ra Huế xung vào đội thợ xây dựng cố cung. Có người được vua phong đến hàm Bát phẩm, đó là những Chánh Ca,

Lễ hội làng Gốm, một hoạt động văn hóa tinh thần của cộng đồng cư dân Thanh Hà – Hội An luôn diễn ra sôi nổi, đậm tính dân gian với nhiều nghi thức cổ truyền được chính các nghệ nhân và bà con nhân dân trong làng thực hiện.

Ngay từ sáng sớm, phần lễ chính tế Tổ với đoàn rước thần chủ đã diễn hành qua khắp các ngã đường. Đội hình lân, sư, dàn bát âm, nghi trượng, kiệu thần chủ, kiệu lư hương gốm cùng hơn 100 nam phụ lão ấu đi từ miếu Nam Diêu về đình Thanh Chiếm tế lễ. Đây là nơi được cư dân thờ tự, tôn vinh và ngưỡng vọng về công đức của các vị tổ nghề.

Trong văn tế của Ban cổ lễ do các bô lão chủ trì điều hành theo nghi thức truyền thống, nài tâm niệm cầu mong quốc thái dân an, nhà nhà an lành, mùa màng bội thu và tri ân công đức Tổ nghề. Lời tiếng của người hậu thế cũng đã gợi tưởng niềm tự hào mà bao thế hệ người làng Nam Diêu, Thanh Chiếm, Bộc Thuỷ…hoài vọng.

Ngay sau phần lễ tế chấm dứt, người làng Thanh Hà đa phần “mặc áo vải, khăn hoa” cùng mời du khách vui hội với nhiều trò chơi dân gian đặc sắc như: cõng nàng về dinh, lái buôn xuất sắc, thi chuốt gốm, làm con thổi đất nung, nấu cơm bằng nồi đất, thi đập nồi, bịt mắt đánh trống,…

Sôi nổi nhất là hội đua thuyền, hô hát bài chòi, hát bội diễn ra liên tục từ đêm trước đến tận tàn ngày hội.

Làng gốm Thanh Hà nay đã là điểm đến không thể thiếu đối với du khách khi tham quan đô thị cổ Hội An – di sản văn hóa thế giới./.

Theo hoianworldheritage.org.vn

Thông tin giỗ Tổ nghề Yến

Thông tin giỗ Tổ nghề Yến

Các hoạt động Giỗ Tổ nghề Yến Bính Tuất – 2006 sẽ diễn ra vào các ngày 6 và 7/4( mồng 9 và 10 tháng Ba âm lịch) tại xã đảo Tân Hiệp- Cù Lao Chàm, với nhiều hoạt động phong phú: Tế Tổ nghề Yến, Vui hội làng chài ( đua ghe ngang, kéo co bằng thuyền trên biển, hội Bài chòi, trò chơi bịt mắt đập nồi).

Thông tin giỗ Tổ nghề Yến

Thông tin giỗ Tổ nghề Yến

Giỗ Tổ nghề Yến là một lễ lệ dân gian có từ lâu đời nhằm cầu mong biển trời phù hộ và tưởng niệm tri ân các bậc tiền bối đã có công trạng đối với nghề khai thác Yến sào; đồng thời nâng cao niềm tự hào và ý thức bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm của vùng biển đảo thân yêu. Tuy nhiên, lễ lệ giỗ tổ nghề Yến từng bị mai mọt khá nhiều qua thời gian và bao biến thiên lịch sử, mới được lưu tâm phục hồi mấy năm gần đây nhưng lại thiếu tính chủ động và ổn định.

Các hoạt động Giỗ Tổ nghề Yến năm nay là sự kiện văn hóa- du lịch quan trọng nằm trong chuỗi chương trình Năm Du lịch quốc gia Quảng Nam- 2006 nhằm giới thiệu và quảng bá một nghề truyền thống đặc trưng của cư dân sông nước Hội An tiếp tục được lưu truyền đến ngày nay, gắn với một đặc sản quý nổi tiếng khắp trong và nài nước; đồng thời góp phần khám phá vẻ đẹp quyến rũ của đất nước, biển trời và con người hải đảo; qua đó góp phần chọn lựa để định hướng cho việc tổ chức các hệ thống lễ hội truyền thống dân gian gắn với phát triển du lịch của Hội An.

Các hoạt động Giỗ Tổ nghề Yến Bính Tuất – 2006 sẽ diễn ra vào các ngày 6 và 7/4( mồng 9 và 10 tháng Ba âm lịch) tại xã đảo Tân Hiệp- Cù Lao Chàm, với nhiều hoạt động phong phú: Tế Tổ nghề Yến, Vui hội làng chài ( đua ghe ngang, kéo co bằng thuyền trên biển, hội Bài chòi, trò chơi bịt mắt đập nồi), đêm hội Cù lao (biểu diễn nghệ thuật cổ truyền, giao lưu văn nghệ đất liền- hải đảo- du khách), Chợ ẩm thực món nn Cù Lao Chàm (các đặc sản biển, rau rừng, bánh ít, tổ yến khô, yến chưng hột sen, rượu yến, rượu hải sâm- bào ngư…), tour tham quan thắng cảnh biển đảo- các khu du lịch Cù Lao Chàm, hang Yến sào (hang Tò Vò), làng chài Bãi Hương, xem san hô, các loài hải sản dưới biển bằng thuyền đáy kính và thúng đáy kính khu vực Bãi Nần.

Theo hoianworldheritage.org.vn

Tết nguyên tiêu ở Hội An có gì khác

Tết nguyên tiêu ở Hội An có gì khác

Ngày xưa, cứ vào ngày 15/01 âm lịch, người Hoa thường mời thầy chùa về tụng kinh cầu an cho người sống, cầu siêu cho người đã khuất, con cháu trong bang thì mang lễ vật chay đến cúng như hoa quả, áo giấy, chè, xôi,…

Tết nguyên tiêu ở Hội An có gì khác

Tết nguyên tiêu ở Hội An có gì khác

Vào ngày này, có thể bắt đầu vào thời Tây Hán ở Trung Quốc, người ta còn tiến hành nghi thức rước đèn lồng rất đẹp mắt và long trọng. Chính vì thế, tết Nguyên Tiêu còn gọi là lễ hội lồng đèn. Đối với cộng đồng cư dân người Hoa ở Hội An (nhất là đối với người Hoa Minh Hương, người các bang Triều Châu, Quảng Đông), tết Nguyên Tiêu không chỉ là tết thuần tuý mang thú vui thưởng nạn mà còn mang ý nghĩa tâm linh lớn lao: Cúng các vị tiền hiền, vừa cầu mong cuộc sống tốt đẹp (cầu an) no đủ, buôn bán phát tài.

Đây là một trong những lễ tết quan trọng trong cộng đồng cư dân Hội An, đặc biệt là đối với bà con người Hoa. Nguyên là thứ nhất, Tiêu là đêm. Nguyên tiêu là đêm rằm đầu tiên của một năm (ngày rằm tháng giêng âm lịch). Theo tích cũ của người Trung Hoa, lễ tết Nguyên tiêu còn gọi là Tết Thượng Nguyên, ngày xưa, vào đêm rằm đầu tiên của năm này, vua cho mời các Trạng Nguyên về kinh đô dự yến tiệc, thưởng trăng, trổ tài thơ phú trong vườn Thượng Uyển. Vào ngày này, có thể bắt đầu vào thời Tây Hán ở Trung Quốc, người ta còn tiến hành nghi thức rước đèn lồng rất đẹp mắt và long trọng. Chính vì thế, tết Nguyên Tiêu còn gọi là lễ hội lồng đèn. Đối với cộng đồng cư dân người Hoa ở Hội An (nhất là đối với người Hoa Minh Hương, người các bang Triều Châu, Quảng Đông), tết Nguyên Tiêu không chỉ là tết thuần tuý mang thú vui thưởng nạn mà còn mang ý nghĩa tâm linh lớn lao: Cúng các vị tiền hiền, vừa cầu mong cuộc sống tốt đẹp (cầu an) no đủ, buôn bán phát tài. Đây còn là ngày “Thiên quan tứ phước”, ngày các quan trời ban bố phước lành cho mọi người trên thế gian, do vậy phải tổ chức cúng tế cầu an, cầu phước, đồng thời mở hội vui chơi để chuẩn bị bước vào công việc của năm mới với nhiều ước vọng, vạn sự như ý. Cũng vì thế, trong cộng đồng người Hoa ở Hội An, lễ tết này được tổ chức rất linh đình và quy mô, kéo dài từ hai đến ba ngày, quy tụ con cháu từ khắp nơi đổ về và thu hút đông đảo mọi người tham dự, trở thành một lễ hội lớn của bà con người Hoa.

Ngày xưa, cứ vào ngày 15/01 âm lịch, người Hoa thường mời thầy chùa về tụng kinh cầu an cho người sống, cầu siêu cho người đã khuất, con cháu trong bang thì mang lễ vật chay đến cúng như hoa quả, áo giấy, chè, xôi,… Vào ngày chính (ngày vía) -16/1 âm lịch, nghi lễ được tổ chức rất trang trọng và thiêng liêng. Lễ vật trong ngày vía chính gồm một con lợn quay, bôi phẩm màu đỏ đặt ở bàn lễ chính, bên cạnh có bánh bao, hoa quả, tiền giấy, hương trà. Đến giờ tế lễ (khoảng 10-11h) tất cả bà con trong bang đều tập trung về trước điện, y phục chỉnh tề cùng nhau vái lạy thánh thần, tổ tiên,… Lễ vía kết thúc khi ông trưởng bang đốt tiền, áo giấy rồi cắm một con dao lên mình con lợn. Tiếp theo là con cháu và khách lần lượt vào dâng hương, xin lộc. Sau đó, mọi người trong bang cùng khách mời ngồi vào bữa tiệc, ăn uống rất linh đình. Đến phần hội nài trò chơi múa lân, còn có những trò chơi khác như xổ số, biểu diễn du hồ, đốt pháo, ca hát,…

Tết Nguyên Tiêu cũng là ngày lễ rất quan trọng của bà con tín đồ đạo Phật (lễ Phật quanh năm, không bằng rằm tháng giêng). Vì ngày rằm tháng giêng còn là ngày vía của Phật tổ Adiđà, nên ở các chùa đều tập trung tổ chức lập đàn cầu Phật, tụng kinh với sự tham gia đông đảo của thiện nam, tín nữ để cúng nhương sao giải hạn, cầu mong đức Phật phù hộ. Đối với cộng đồng cư dân người Việt, ngày này tuy không được coi trọng như cư dân người Hoa, nhưng cũng được xem là ngày Tết Thượng Nguyên. Một ngày rằm đầu tiên, quan trọng trong năm. Vì thế tại các đình làng, miếu xóm và ngay ở mọi nhà đều sắm lễ hương hoa, trà, quả, bánh trái,… để cúng rằm tháng giêng.

Theo hoianworldheritage.org.vn

Tết Trung Thu ở phố cổ Hội An

Tết Trung Thu ở phố cổ Hội An

Ngay từ đầu tháng, Tết đã được sửa soạn với những cỗ đèn muôn mầu sắc, muôn hình thù, với những bánh dẻo, bánh nướng mà ta gọi gồm là bánh trung thu, với những đồ chơi của trẻ em rất phong phú, trong số đó đáng kể nhất của thời xưa là ông Tiến sĩ giấy và đèn ông sao.

Tết Trung Thu ở phố cổ Hội An

Tết Trung Thu ở phố cổ Hội An

Trong dịp này người ta làm cỗ cúng gia tiên và bày bánh trái ra sân cúng mặt trăng. Nhân dịp tết này, người lớn thì uống rượu, thưởng trăng, và hát trống quân; trẻ em thì rước đèn, đi xem múa lân, ca hát các bài hát Trung Thu, và vui hưởng bánh kẹo cùng các thứ trái cây do cha mẹ bày ở ngoài sân trong đêm Trung Thu dưới hình thức một mâm cỗ. Ở một số nơi tổ chức múa lân, múa sư tử để các em vui chơi thoả thích.
Ngay từ đầu tháng, Tết đã được sửa soạn với những cỗ đèn muôn mầu sắc, muôn hình thù, với những bánh dẻo, bánh nướng mà ta gọi gồm là bánh trung thu, với những đồ chơi của trẻ em rất phong phú, trong số đó đáng kể nhất của thời xưa là ông Tiến sĩ giấy và đèn ông sao.
Ngoài ra, Tết Trung Thu còn là dịp để người ta ngắm trăng tiên đoán mùa màng và vận mệnh quốc gia. Nếu trăng thu màu vàng thì năm đó sẽ trúng mùa tằm tơ, nếu trăng thu màu xanh hay lục thì năm đó sẽ có thiên tai, và nếu trăng thu màu cam trong sáng thì đất nước sẽ thịnh trị.

Theo hoianworldheritage.org.vn

Thông tin lễ tế cá Ông

Thông tin lễ tế cá Ông

Mỗi khi ra khơi, họ thường cúng vái. Nhiều lần họ được cá Ông giúp đỡ trong lúc biển động mạnh, ghe họ sắp chìm. Họ cầu cứu cá Ông, thì ít phút sau đó, cá Ông hiện đến.

Thông tin lễ tế cá Ông

Thông tin lễ tế cá Ông

Trong ngày lễ bàn thờ được trang hoàng hết sức rực rỡ, trang nghiêm. Các nhà đều đặt bàn hương án bày đồ lễ cúng. Trên mỗi tàu thuyền đều chăng đèn kết hoa. Lễ cầu an được tổ chức vào đêm đầu tiên tại làng Cá Ông dưới sự điều khiển của các vị chánh bái, là những vị cao niên, có uy tín lớn trong làng chài. Vị chánh bái dâng đồ tế lễ (thường không dùng hải sản) và đọc văn tế nói lên lòng biết ơn của dân làng đối với công đức Cá Ông và cầu mong mùa đánh bắt bội thu, thuyền bè đi khơi về lọng an toàn.
Mỗi khi ra khơi, họ thường cúng vái. Nhiều lần họ được cá Ông giúp đỡ trong lúc biển động mạnh, ghe họ sắp chìm. Họ cầu cứu cá Ông, thì ít phút sau đó, cá Ông hiện đến. Cá Ông kề lưng đỡ thuyền họ lướt qua sóng gió hãi hùng”. Trong chiều sâu tâm thức, người ngư dân đặt tin tưởng vào sinh vật khổng lồ vừa “hiền” vừa “thiêng” là loài cá voi, mà họ gọi một cách kính trọng là cá Ông, hoặc Ông, dù rằng sự cứu giúp đó mang tính huyền thoại nhiều hơn là hiện thực.
Lễ hội diễn ra trong không khí tưng bừng náo nhiệt từ sáng đến tối mịt mới chấm dứt, thu hút đông đảo bà con ngư dân vùng biển Hội An.

Theo hoianworldheritage.org.vn

Lễ Vu Lan tại chùa Pháp Bảo, Hội An

Lễ Vu Lan tại chùa Pháp Bảo, Hội An

Nếu còn cha mẹ trên đời, bạn là người đang có diễm phúc đó. Hãy trở về với cha mẹ, nếu bạn ở xa thì hãy gọi điện thoại, gửi một lá thư…

Lễ Vu Lan tại chùa Pháp Bảo, Hội An

Lễ Vu Lan tại chùa Pháp Bảo, Hội An

Tại chùa Pháp Bảo, tất cả mọi người có mặt tại đêm hội Bông hồng cài áo đều cảm thấy giây phút này thật thiêng liêng. Bông hồng gắn ở ngực như cảm thấy được ở bên cha mẹ. Ký ức về bao nỗi nhọc nhằn, lo toan của mẹ cha suốt năm dài tháng rộng như dồn nén, ùa về trong những người con vào đêm trăng tháng 7 này.
Với những người không còn cha mẹ trên cõi đời, có thể làm những gì đó để cầu nguyện cho cha mẹ mình, hướng nghĩ đến cha mẹ. Nếu còn cha mẹ trên đời, bạn là người đang có diễm phúc đó. Hãy trở về với cha mẹ, nếu bạn ở xa thì hãy gọi điện thoại, gửi một lá thư… Bạn có thể làm điều gì đó tốt đẹp, đem đến cho cha mẹ niềm vui và hạnh phúc. Niềm vui và hạnh phúc đôi khi rất đơn sơ, có thể là cái nắm tay, có thể là lời nói, lời xin lỗi, cũng có thể là sự cảm thông.
Trong đêm trăng tháng 7, trong lời nguyện cầu về những linh hồn người mẹ đã mất, lời cầu an cho người mẹ còn sống, không ai không thể lắng lòng để rồi càng kính yêu những người sinh thành, nuôi dạy mình. Người ta tìm đến đêm Vu Lan bởi đây là nơi nuôi dưỡng truyền thống gia đình – một phần quan trọng trong văn hoá Việt

Theo hoianworldheritage.org.vn

Thông tin lễ vía bà Thu Bồn

Thông tin lễ vía bà Thu Bồn

Theo tục lệ, thuyền thuộc lăng miếu nào thì được vị thần ở lăng miếu đó bảo hộ. Phía bên kia con sông Thu Bồn có thuyền bà Phường Chào – Người Việt, cũng tham gia đua thuyền cùng bà Thu Bồn.

Thông tin lễ vía bà Thu Bồn

Thông tin lễ vía bà Thu Bồn

Đây là lễ hội dân gian truyền thống lâu đời của cư dân trong vùng nhằm tưởng nhớ Bà Thu Bồn. Bà Thu Bồn, còn gọi là Bô Bô phu nhân, người Chăm, có công gây dựng nghề nông-ngư nghiệp cho vùng đất phù sa. Bà là hiện thân của tình thương yêu, đùm bọc lẫn nhau, vươn lên chiến thắng thiên tai, địch hoạ, có công đức đối với cư dân trong vùng. Lăng Bà do cư dân từ xưa xây dựng tại xã Duy Tân.

Theo tục lệ, thuyền thuộc lăng miếu nào thì được vị thần ở lăng miếu đó bảo hộ. Phía bên kia con sông Thu Bồn có thuyền bà Phường Chào – Người Việt, cũng tham gia đua thuyền cùng bà Thu Bồn. Trước khi tranh giải cả đoàn trạo thủ phải đến làm lễ, khấn vái trước lăng rồi mới làm lễ xuất phát.
Lễ hội diễn ra sôi nổi với các phần: tế lễ, đua thuyền tranh tài, rước cộ. Các trò vui chơi dân gian, hát hò khoan đối đáp tại Thu Bồn Đông, hô hát bài chòi tại chợ Thu Bồn, thi đấu thể thao, cờ người, làm bánh, thi dội nước, gùi nước, gánh nước, kéo co, bắn nỏ, đi cà kheo, thi bơi thuyền, mở chợ ẩm thực với nhiều món ăn dân tộc Cà Tu, Chăm… Đêm cuối hội có rước đuốc và thả hoa đăng trên sông, đốt lửa trại và hát tuồng.

Theo hoianworldheritage.org.vn

Thông tin lễ vía bà Thiên Hậu ở Hội An

Thông tin lễ vía bà Thiên Hậu ở Hội An

Lễ hội đã tạo điều kiện tăng cường tình đoàn kết gắn bó của hai dân tộc nhiều hơn và đã trở thành một nét văn hóa chung của dân tộc Việt Nam

Thông tin lễ vía bà Thiên Hậu ở Hội An

Thông tin lễ vía bà Thiên Hậu ở Hội An

Bà Thiên Hậu có gốc tích tại Phúc Kiến (Trung Quốc). Bà sống vào đời Tống, bà có tài tiên đoán gió mưa, bão lụt nên đã giúp cho người dân (nhất là ngư dân) tránh được cơn nguy hiểm. Vì vậy, bà được nhân dân tôn thờ như một vị thánh. Tương truyền thế kỷ trước, tổ tiên của người Hoa Việt Nam trên con đường gian truân vượt sóng gió biển khơi, đi về phía Nam tìm đất lập nghiệp được nữ thần Thiên Hậu luôn giúp đỡ phù hộ họ an toàn trên các chuyến hải trình nguy hiểm. Sau đó còn tiếp tục đồ trì họ trong việc định cư, ổn định cuộc sống nơi đất mới cho đến hiện nay.

Lễ hội đã tạo điều kiện tăng cường tình đoàn kết gắn bó của hai dân tộc nhiều hơn và đã trở thành một nét văn hóa chung của dân tộc Việt Nam

Theo hoianworldheritage.org.vn